Dimanche 14 novembre 2010 7 14 /11 /Nov /2010 18:33

 

TUYẾT MAI

 


  

 

 

 

 

 

 

Những phật tử thuần thành, đọc nhiều kinh sách, biết nhiều địa danh trong kinh điển, chắc ai cũng  muốn đi hành hương phật tích ở Ấn Độ và Nepal một lần để biết nơi Đức Phật Đản Sinh, nơi Đức Phật Chuyển Pháp Luân lần đầu tiên, nơi Đức Phật Thành Đạo dưới gốc bồ đề, nơi Đức Phật nhập Niết Bàn vv…nhưng được đặt chân đến những thnáh tích này hẳn phải có đầy đủ phước duyên. Nhờ ơn Chư Phật, Chư Bồ Tát gia hộ, một  phái đoàn  gồm 67  phật tử đã hành hương nhiều Phật tích ở Ấn Độ, Nepal và đến Dharamsala tu học với Ngài Đức Lạt Lai Lạt Ma  bốn ngày, nơi đây phái đoàn được Ngài tiếp kiến riêng. Chuyến hành hương bắt đầu từ 20 Tháng 9 đến 10 Tháng Mười, được thành công viên mãn, đem lại cho phật tử nhiều lợi lạc tâm linh, chỉ có thể cảm nhận chứ không thể diễn tả bằng ngôn ngữ.

 

 

 

 

Phái đoàn gồm 67 người, khá đông, việc tổ chức rất khó khăn nhưng chuyển hành hương được thành công tốt đẹp là nhờ vào công đức  lớn lao của hai vị trưởng đoàn,  trưởng ban tổ chức và  ba vị sư VN đã tu nhiều năm ở Ấn Độ hướng dẫn,  giới thiệu  lịch sử  các Phật tích ở Ấn Độ và Nepal. Đây là một chuyến hành hương vô cùng hiếm quý, có một không hai  trong đời người, không phải là chuyến du lịch thường để kỳ thú thưởng ngoạn những di tích lịch sử cổ xưa,  hoang tàn đổ nát bởi thời gian.
Trưa ngày 20 Tháng 9, 2010, hai vị sư, Trưởng đoàn và Trưởng Ban Tổ Chức cùng sáu mươi bảy phật tử từ nhiều tiểu bang ở Hoa Kỳ như Alabama, Ohio, Cali, Nevada, Louisiana, Maryland, Virginia… đã đáp phi cơ  về phi trường Chicago. Sau đó tất cả cùng đáp phi cơ đi New Delhi, Ấn Độ. Ngày hôm sau phái đoàn dùng phi cơ nội địa đi Varanasi.
Sau một thời gian dài, 15 giờ trên phi cơ xuyên lục địa, từ Hoa Kỳ đến Ấn Độ, và phi cơ tới  Varanasi, phái đoàn được đưa về nghĩ ngơi tại một khách sạn rất khang trang ở Sarth. Ngày hôm sau phái đoàn bắt đầu tham quan, địa điểm đầu tiên là Sông Hằng. Đây không phải là Phật tích, nhưng là một dòng sông nổi tiếng trên thế giới và Ấn Độ. Phái đoàn đến đây sớm, dùng thuyền ngắm cảnh rạng đông trên sông. Mặc dầu sông này rất dài nhưng chỉ có một đoạn chảy ngang qua thành phố Varanasi chừng vài cây số được người Ấn Độ cho là khúc sông linh thiêng. Theo tín ngưỡng Hindu (Ấn Độ Giáo), tắm trên sông Hằng được xem là gột rửa mọi tội lỗi, và nước sông được sử dụng rộng rãi trong các nghi lễ thờ cúng. Uống nước sông Hằng trước khi chết là một điềm lành. Nhiều người Hindu đã yêu cầu được hỏa thiêu ở dọc hai bên sông Hằng và lấy tro thiêu xác của họ rải xuống dòng sông. Thuyền bè du khách, người hành lễ tôn giáo, tắm gội, cầu nguyện đã tạo ở đây một khung cảnh tấp nập, nhộn nhịp. Những phật tử VN cũng góp lời cầu kinh trên khúc sông thiêng này.
Phái đoàn đi thăm bốn thánh địa chính của Phật giáo là Vườn Lâm Tỳ Ni, nơi đức Phật Đản Sinh (Lumbini, nay thuộc nước Nepal); Bồ Đề Đạo Tràng (Bodh Gaya),  nơi Đức Phật thành đạo; Vườn Lộc Uyển (Sarnath), nơi Đức Phật chuyển bánh xe pháp đầu tiên và  Tháp Niết Bàn ở Câu Thi Na (Kushinara/ Kushinagar), nơi Ngài nhập Niết Bàn. Bên cạnh những phật tích đó, phái đoàn cũng đến viếng thăm nhiều phật tích khác như: Khổ Hạnh Lâm (Nơi Đức Phật tu  khổ hạnh trong rừng); Núi Linh thứu (Nơi Đức Phật trú ngụ và giảng kinh Pháp Hoa…); Tinh xá Trúc Lâm (nơi Đuúc Phật và tăng đoàn trú ngụ và thuyết giảng kinh); Đại học cổ Na lan đà (Đại học Phật giáo thế kỷ thứ sáu);  Thành cổ Ca-tỳ-la-vệ (Kinh Đô của Bộ Tộc Thích Ca ngày xưa); Tinh xá Kỳ Viên, (Nơi Đức Phật thường trú trong hai mươi lăm mùa an cư kiết hạ)… Ngoài ra phái đoàn cũng viếng thăm nhiều chùa quốc tế nổi tiếng xung quanh các Phật tích như: Việt Nam Phật Quốc Tự, Chùa Thái Lan, Chùa Nhật Bản, Chùa Trung Hoa, Chùa Tây Tạng, Chùa Miến Điện, … Bảo Tàng Viện Quốc Gia Ấn Độ ở  New Delhi, có tôn trí xá lợi Phật trong tháp nạm vàng do Hoàng gia Thái Lan tặng. Phái đoàn cũng gieo duyên lành viếng thăm và tặng hiện kim giúp đỡ nhiều trường học  nghèo ở vùng quê trên đường đi tới các thánh tích và Cô nhi viện Siddhartha Compassion Trust do sư cô Từ Tâm trông nom… 
Vì những địa điểm Phật tích cách nhau rất xa, để tiện cho chuyến đi chiêm bái, lộ trình được ấn định đến viếng thăm nơi Đức Phật chuyển pháp luân tại Vườn Lộc Uyển trước. Mặc dầu đã vào mùa thu, thời tiết ở Ấn Độ vẫn còn rất nóng, trên 90F, nắng chói chan, nhưng để tỏ lòng tôn kính Đức Thế Tôn, tất cả phật tử luôn mặc áo tràng, giữ tâm thanh tịnh và chánh niệm, thành kính trong từng bước kinh hành, vừa đi vừa niệm danh hiệu Phật ba vòng, quanh các bảo tháp ở mỗi Phật tích viếng thăm. Sau đó mọi người kính cẫn đảnh lễ Phật và cầu nguyện, vô cùng trang nghiêm, dưới sự hướng dẫn nghi lễ của vị sư trưởng đoàn. Do đồng phát khởi tín tâm, chí thành hoan hỷ, mọi người đều cảm nhận được năng lực gia hộ, một sự cảm ứng đạo giao thiêng liêng, sâu xa với Chư Phật, Chư Bồ Tát. Nhiều phật tử cảm động, xúc động ứa nước mắt.
 Vườn Lộc Uyển là một khu vườn rộng với cây cảnh xanh tươi, trong đó có tháp Chuyển Pháp Luân (Dhamekh stupa) rất lớn. Sau khi kinh hành ba vòng quanh tháp, các phật tử được Thầy Trưởng đoàn hướng dẫn trang nghiêm đảnh lễ Phật và cầu nguyện. Sau đó mọi người ngồi xuống, giữ tâm thanh tịnh, lắng nghe một vị sư tu ở Ấn Độ nhiều năm kể lại lịch sử của thánh tích này.
Địa điểm quan trọng thứ hai của chuyến hành hương là Bồ Đề Đạo Tràng (Bodh Gaya), nơi Đức Phật thành đạo. Ở Bồ Đề Đạo Tràng có Đại tháp Giác Ngộ rất cao, chung quanh có nhiều tháp nhỏ do những vị vua đến đây chiêm bái và xây tháp để tưởng niệm. Ở mặt trước của Đại Tháp có cửa vào một chánh điện nhỏ, thờ  Phật Thích Ca Mâu Ni, đơn sơ nhưng rất trang nghiêm, thiêng liêng. Phía sau Đại Tháp là cây Bồ Đề thật to và nơi được ghi nhận là nơi Đức Phật đã ngồi thiền định suốt bốn mươi chín ngày đêm và chứng đắc đạo quả vô thượng chánh đẳng chánh giác ở đây. Khu vực nhỏ này được bảo vệ kiên cố bằng những trụ đồng thật to.
Lối đi chung qua Đại tháp được lót bằng đá hoa cương trắng, hoa tươi cúng dường khắp nơi, chung quanh tháp. Ngày thường không khí ở đây rất thanh tịnh, trang nghiêm, kẻ kinh hành, người thiền định. Chiều Chủ Nhật có nhiều phật tử đi lễ, đông đảo, khó chen chân, lúc nào cũng có tiếng tụng niệm kinh kệ vang vang. Như hòa cùng niềm vui với phật tử tứ phương về đây, chim chóc cũng bay về đất lành này nghe kinh kệ, ca hót líu lo rền trời, tạo một không khí thật an lành nơi đất Phật.
Trong khuôn viên của Bồ Đề Đạo tràng có bảy đài tuởng niệm nhỏ, ghi lại những nơi Đức Phật đã lưu lại đây bảy tuần sau khi thành đạo.  Năm 2002, Đại tháp Giác ngộ được UNESCO công nhận là Di sản thế giới. Phía ngoài Bồ Đề Đạo Tràng có nhiều gian hàng bán quà cho du khách, nhiều nhất là tượng Phật và chuổi bồ đề, rất đông vui. Dọc đường có rất nhiều người ăn xin.
Địa điểm kế là Núi Linh Thứu (Gridhakuta/ Vulture’s Peak), theo truyền thống Phật giáo Bắc Tông, nơi đây Đức Phật thuyết giảng nhiều kinh điển Đại thừa, nổi bật như kinh Pháp Hoa … Phật tử đảnh lễ Phật trên đỉnh núi và chiêm bái những hang động, nơi Đức Phật, Ngài A Nan, Ngài Xá Lợi Phất cư trú khi xưa….. Kế đến là Trúc Lâm Tinh Xá (Venuvana), đây là khu rừng trúc do vua Tần Bà Sa La (Bimbisara) dâng cúng cho Đức Phật và Tăng đoàn trú ngụ và giảng pháp….. Trong ngày này phật tử cũng viếng thăm Đại Học Na Lan Đà là trường đại học Phật giáo Quốc tế đầu tiên trên thế giới, được thành lập vào thế kỷ thứ năm Tây lịch. Trường ốc rộng mênh mông, đã bị người Hồi giáo tàn phá vào cuối thế kỷ thứ 12 Tây lịch, nay chỉ còn nền gạch đổ nát ghi dấu.

 

 

 

 

 

 

 

 

Ngày hôm sau phái đoàn tiếp tục đi về hướng Câu Thi Na (Kushinara). Khoảng giữa hành trình, đoàn viếng thăm vùng Tỳ Xá Ly (Vaishali). Vào thời Phật tại thế, Vaishali là một xứ Cộng hoà Dân chủ đầu tiên trên thế giới của 2 dòng tộc Vajji và Lichchavi.  Nơi này có Trụ đá vua A Dục và tháp thờ Xá Lợi Phật, đánh dấu hai sự kiện quan trọng. Đó là:
 1.- Đức Phật chấp thuận cho nữ giới xuất gia, thành lập Ni đoàn;
 2.- Vào kỳ an cư kiết hạ cuối cùng, Đức Phật tuyên bố sau 3 tháng nữa sẽ nhập niết bàn.
Rời Vaishali, đoàn đi tiếp đến Kushinara. Sáng sớm hôm sau, đoàn vào chiêm bái Tháp Trà Tỳ (Ramabhar stupa) nơi mà khi xưa diễn ra lễ hỏa táng Kim Thân Đức Phật và Xá lợi của Phật được phân chia làm tám phần, chia cho tám quốc gia đem về xây tháp tôn thờ.

 

 

 

 

 

 

Sau đó phật tử thăm viếng Chùa và Tháp Niết Bàn (Mahaparinirvana Temple & Parinirvana stupa). Trong Tháp Niết Bàn, phía trước có Chánh điện, tôn trí duy nhất là tượng Phật Thích Ca nằm trong tư thế kiết tường (nằm nghiêng). Cũng như ở những thánh tích trước, Phật tử đã chí thành, giữ chánh niệm trong từng bước chân, vừa đi vừa niệm danh hiệu Phật ba vòng quanh tượng Đức Bổn Sư , rồi đấp y cho Đức Phật, rất cảm động.
Phía sau Chánh điện là tháp chính được gọi là Tháp Niết Bàn (Tháp Nirvana). Đây là nơi Đức Thế Tôn thị hiện Niết Bàn giữa hai cây Sala. (Tháp Niết Bàn và Tháp Trà Tỳ cách nhau chừng một cây số).
Ngày hôm sau phật tử được đưa đi thăm Vương Thành Ca-tỳ-la-Vệ, ở Nepal, Kinh đô của Bộ tộc Thích Ca. Kinh sách viết lại sau khi Thái Tử Tất Đạt Đa đi ra bốn cửa thành, thấy người già, bệnh, chết, cảnh khổ của kiếp người nên có ý định đi tầm đạo để giải thoát. Phật tử lần lượt đến xem cửa thành phía Tây, rồi cửa thành phía Đông, nơi Thái Tử Tất Đạt Đa đã ra đi từ bỏ ngai vàng điện ngọc, xuất gia.  Bây giờ Vương thành này là một khu đất rộng lớn, cỏ hoang mọc cao, bao quanh bởi một hàng rào. Bên trong còn nền gạch của những đền đài vua chúa ngày xưa.
Ngày kế tiếp phái đoàn đi thăm Vườn Lâm Tỳ-Ni, ở Nepal, nơi Đức Phật Đản sinh. Theo lịch sử, Hoàng Hậu Ma-Da trở về quê mẹ để sinh con đầu lòng. Lúc dừng chân nghĩ ngơi ở Vườn Lâm Tỳ Ni, trong khi đang đứng vịn tay vào nhánh cây Vô Ưu đang nở hoa thơm ngát, Hoàng Hậu đã hạ sinh Thái Tử Tất Đạt Đa.
Được biết sau khi Đức Phật nhập Niết Bàn khoảng 300 năm, Vua A Dục thân hành đến đây chiêm bái, cho dựng trụ đá có khắc một bia ký bằng tiếng Phạn để ghi dấu nơi này chính là nơi  Đức Thế Tôn đản sinh. Bia ký khắc trên trụ đá này được xem như bản khai sinh của Đức Bổn Sư. Ngài xuất hiện trong cuộc đời đích thực là một con người bằng xương bằng thịt. Trãi qua quá trình kiên trì tinh tấn tu tập, những năm tháng sau đó, cuối cùng Ngài đạt được đạo quả, cứu cánh giải thoát giác ngộ hoàn toàn. Điều này xác chứng khả năng thành Phật của con người. Cho nên Đức Phật đã tuyên bố: “Ta là Phật đã thành, chúng sanh là Phật sẽ thành”.
Sau đó phái đoàn đi vào trong ngôi đền Mayadevi phía trước trụ đá. Khoảng giữa những nền móng khai quật, có một phiến đá có dấu ấn của một bàn chân nhỏ mà các nhà khảo cổ xác định đây là nơi đầu tiên Đức Phật đặt chân xuống mặt đất. Phiến đá được lồng kiếng với dòng chú thích: “Maker Stone: The Exact Birth Place of Buddha”. Ngay phía trên phiến đá có một bức phù điêu minh họa cảnh Hoàng Hậu Ma-Da đang đứng vịn tay vào nhánh cây Vô Ưu.
Chính phủ Nepal đã có kế hoạch, trong tương lai Thánh địa Lâm Tỳ Ni sẽ là một Trung tâm Quốc tế của Phật Giáo và cũng là Trung tâm Hội nghị Hoà bình của Thế giới. Dự án sẽ thành lập một phi trường Quốc Tế tại đây. Khuôn viên Lâm Tỳ Ni rất rộng. Nhiều Quốc gia Á Châu đã xây chùa ở  đây, phô trương nét văn hóa phật giáo nước mình, trong đó có hai chùa VN, Tây Tạng, Miến Điện, Đại Hàn, Nhật, Trung Hoa…
Ngày hôm sau, phái đoàn trở về Ấn Độ viếng thăm Thành Xá Vệ (Sravasti): Kỳ viên Tinh xá (Jetavana), nơi Đức Phật thường ngự trong 25 mùa an cư kiết hạ, vì thế rất nhiều pháp thoại và kinh điển đại thừa cũng như Nam truyền được tuyên thuyết ở đây. Gần ngay cổng vào Tinh xá có một cây bồ đề thật to, được gọi là cây bồ đề của Ngài A Nan. Cây bồ đề ở đây lấy giống từ cây bồ đề ở Bồ Đề Đạo Tràng. Vào thời Phật, cây bồ đề này là biểu tượng để lễ bái thay thế Đức Phật trong khi Ngài đi vắng.
Sau đó phái đoàn vào viếng thăm hương thất của Đức Phật, nơi đây luôn có rải hoa tươi. Chung quanh còn nhiều nền móng của các giảng đường. Bên cạnh đó có phòng của Tôn giả A Nan. Rời Kỳ Viên Tinh Xá, phái đoàn đi thăm Tháp Vô Não (Angulimala Stupa) và Tháp Cấp Cô Độc (Anathapindika Stupa). 
Ngày hôm sau phái đoàn đi Thánh địa Dharamsala, vùng biên giới Ấn, nơi Đức Lạt Lai Lạt Ma cư ngụ,  để nghe thuyết giảng 4 ngày (bảy thời pháp). (Sẽ viết bài tường thuật sau). Sau đó phái đoàn về Delhi, du ngoạn thắng cảnh ở đây.
Trong kinh có ghi, Đức Phật nói với Ngài A Nan:
“Này A Nan, có bốn thánh tích kẻ thiện tín cần chiêm ngưỡng và tôn kính. Thế nào là bốn? Đó là chỗ Như Lai đản sinh; Đó là chỗ Như Lai chứng ngộ vô thượng chánh đẳng chánh giác; Đó là chỗ Như Lai chuyển pháp luân vô thượng; Đó là chỗ Như Lai diệt độ nhập vô dư y niết bàn. Và này A Nan, những ai trong khi chiêm bái những thánh tích mà từ trần với tâm thâm tín hoan hỷ, thời những vị ấy sau khi thân hoại mạng chung sẽ được sanh về cỏi lành, cảnh giới chư thiên”.
Đây là một trong những lời dạy về giá trị của bốn thánh tích của Đức Thế Tôn trước khi nhập vào niết bàn.
Chuyến hành hương Phật tích ở Ấn Độ và Nepal này không phải là một chuyến du lịch để kỳ thú thưởng ngoạn những đền đài, bảo tháp lịch sử hoang tàn đổ nát bởi thời gian, mà đây là một chuyến hành hương đặc biệt đã đem lại nhiều lợi lạc cho phật tử, có một không hai trong đời người.

 

Hình ảnh NHỮNG PHẬT TÍCH trong:

 

WWW.YOUTUBE.COM/TUYETMAI45

 

TUYẾT MAI

Par tonthatphusi
Ecrire un commentaire - Voir les 0 commentaires
Vendredi 12 novembre 2010 5 12 /11 /Nov /2010 15:09

1. Nó

 

Ba nó bỏ đi lúc nó còn đỏ hỏn. Ngoại và mẹ nuôi nó trong nghèo khó. Đau khổ và cả hạnh phúc. Được vài năm, cái đói nghèo cướp mất ngoại. Thiếu hơi bà, nó ngằn ngặt khóc đêm. Mẹ chỉ ôm nó vào lòng, để tay lên ngực trái, dỗ dành "Ngoại có đi đâu! Ngoại ở đây mà!". Vậy là nó nín. Rồi mẹ cũng theo bà. Hôm tang mẹ, thấy dì khóc, nó bảo: "Mẹ có đi đâu! Mẹ ở đây mà!" rồi lấy tay đặt trên ngực trái, chỗ trái tim. Nó dỗ thế mà dì chẳng nín, lại ôm nó khóc to hơn. (Thanh Hải)
 
2. Vòng cẩm thạch

 

Cha kể, cha chỉ ao ước tặng mẹ chiếc vòng cẩm thạch. Tay mẹ trắng nõn nà đeo vòng cẩm thạch rất đẹp. Mỗi khi cha định mua, mẹ cứ tìm cách từ chối, lúc mua sữa, lúc sách vở, lúc tiền trường... Đến khi tay mẹ đen sạm, mẹ vẫn chưa một lần được đeo. Chị em hùn tiền mua tặng mẹ một chiếc thật đẹp. Mẹ cất kỹ, thỉnh thoảng lại ngắm nghía, cười: - Mẹ già rồi, tay run lắm, chỉ nhìn thôi cũng thấy vui. Chị em không ai bảo ai, nước mắt rưng rưng. (ST)
 
3. Quà sinh nhật

 

Trong năm đứa con của má, chị nghèo nhất. Chồng mất sớm, con đang tuổi ăn học. Gần tới lễ mừng thọ 70 tuổi của má, cả nhà họp bàn xem nên chọn nhà hàng nào, bao nhiêu bàn, mời bao nhiêu người. Chị lặng lẽ đến bên má: "Má ơi, má thèm gì, để con nấu má ăn?" Chưa tan tiệc, Má xin phép về sớm vì mệt. Ai cũng chặc lưỡi: "Sao má chẳng ăn gì?" Về nhà, mọi người tìm má. Dưới bếp, má đang ăn cơm với tô canh chua lá me và dĩa cá bống kho tiêu chị mang đến... (ST)
 
4. Con Nuôi

 

Thầy giáo lớp 1 thảo luận với lớp về một bức hình chụp, có một cậu bé màu tóc khác mọi người trong gia đình. Một học sinh cho rằng cậu bé trong hình chính là con nuôi. Một cô bé nói: - Mình biết tất cả về con nuôi đấy. Một học sinh khác hỏi: - Thế con nuôi là gì? Cô bé trả lời: - Con nuôi nghĩa là mình lớn lên từ trong tim mẹ mình chứ không phải từ trong bụng. (ST)
 
5. Khóc

 

Vừa sinh ra đã vào trại mồ côi, trừ tiếng khóc chào đời, chồng tôi không hề khócthêm lần nào nữa. Năm 20 tuổi, qua nhiều khó khăn anh tìm được mẹ, nhưng vì danh giá gia đình và hạnh phúc hiện tại, một lần nữa bà đành chối bỏ con. Anh ngạo nghễ ra đi, không rơi một giọt lệ. Hôm nay 40 tuổi, đọc tin mẹ đăng báo tìm con, anh chợt khóc. Hỏi tại sao khóc, anh nói: "Tội nghiệp mẹ, 40 năm qua chắc mẹ còn khổ tâm hơn anh." (ST)
 
6. Xa xứ

 

Em tôi học đến kiệt sức để có một suất du học. Thư đầu viết: "Ở đây, đường phó sạch đẹp, văn minh bỏ xa lắc nước mình..." Cuối năm viết: "Mùa đông bên này tĩnh lặng, tinh khiết như tranh, thích lắm..." Mùa đông sau viết: "Em thèm một chút nắng ấm quê nhà, muốn được đi giữa phố xá bụi bặm, ồn ào, nhớ chợ bến xôn xao lầy lội... Biết bao lần trên phố, em đuổi theo một người châu Á, để hỏi coi có phải người Việt không..." (ST)
 
7. Cua rang muối

 

Khi xưa nhà còn nghèo, mẹ hay mua cua đồng giả làm cua rang muối. Cua đồng cứng nhưng mẹ khéo tay chiên giòn, đủ gia vị nên thật ngon. Thấy các con tranh nhau ăn, mẹ nhường. Các con hỏi, mẹ bảo: răng yếu. Giờ, các con đã lớn, nhà khá hơn, chúng mua cua biển gạch son về rang muối mời mẹ. Các con nói vui: "Cua rang muối thật đó mẹ." Rồi chúng ăn rất ngon. Riêng mẹ không hề gắp. Các con hỏi, mẹ cười móm mém: "Còn răng đâu mà ăn?!" (ST)

 

 

Par tonthatphusi
Ecrire un commentaire - Voir les 0 commentaires
Dimanche 31 octobre 2010 7 31 /10 /Oct /2010 18:56
CHỦ NGHĨA CỘNG SẢN  : HOANG TƯỞNG VÀ SAI LẦM
  
Hoàng Duy Hùng
 

Một giảng sư đại học đảng viên Cộng Hòa của Mỹ dạy môn triết và ông từng đưa ra nhận định Chủ Nghĩa Cộng Sản của Marx là hoang tưởng và sai lầm.  Giảng sư đưa ra thí dụ cùng một dân tộcmột tiếng nói và một lịch sử nhưng khi áp dụng ở Bắc Triều Tiên (cũng được gọi là Bằc Hàn) hoặc ở Đông Đức thì người dân ở hai xứ này khổ sở trong khi đó ở Nam Triều Tiên và Tây Đức thì người dân sung sướng hơn nhiều.  Dân Đức đã may mắn thống nhất nhưng hai nước Triều Tiên thì chưa. Có một số sinh viên bày tỏ sự hoài nghi.  Có sinh viên cho rằng Chủ Nghĩa Cộng Sản và Chủ Nghĩa Xã Hội không có sai lầm từ căn bản mà là do những người thi hành làm không đúng.   
  
Giảng sư phát biểu: “Bây giờ chúng ta thực tập Chủ Nghĩa Cộng Sản với nguyên tắc làm theo khả năng hưởng theo nhu cầu.  Tôi sẽ cho làm bài thi 3 lần.  Khi làm bài thi mỗi sinh viên làm hết khả năng của mìnhvà để được hưởng theo nhu cầutôi sẽ cộng lại tất cả các điểmchi đều cho các sinh viênai nấy sẽ được điểm như nhau.”
 
Lần thi thứ nhất cả lớp làm bài hăng háisau khi cộng điểm lại tất cả các sinh viênchia đều ra thì thấy điểm trung bình của lớp là B.  Lần thi thứ hainhiều sinh viên học giỏi thấy mình làm giỏi mà chỉ được điểm B nên bất mãn không học hết mìnhtrong khi đó những sinh viên không giỏi cảm thấy mình không làm gì cũng được điểm B nên ù lì ra không học.  Lần nàyđiểm trung bình của lớp là D.  Lần thi thứ ba không ai muốn làm gì nữa nên điểm trung bình của lớp là F! 
 
Sau lần thi thứ bagiảng sư kết luận: “Ngay tự căn bản Chủ Nghĩa Cộng Sản và Xã Hội của Marx sai lầm vì nó đặt trên một giả thuyết sai lầm đó là ai cũng có nhu cầu như nhau nên triệt hạ những ai hay hơn hoặc triệt tiêu ý chí phấn đấu hướng thượng của mỗi người. Nhu cầu của một em bé khác với nhu cầu của người lớn.  Ngón tay thì có ngón dài ngón ngắn.  Sự chênh lệch và khác biệt của con người tạo nên đa dạng và phong phú hơn là xấu xa.  Chủ nghĩa Cộng Sản nhìn sự chênh lệch và khác biệt là xấu xa và tìm cách triệt tiêu sự chênh lệch và khác biệt nên gây ra tai họa cho con người. Khi triệt hạ như vậy họ lại tạo nên một sự khác biệt và chênh lệch lớn lao hơn.  Chủ nghĩa này tạo nên một guồng máy tàn bạo hun đúc những con người dầu có lòng trong trắng bước vào guồng máy này lập tức bị cô lập hay là trở thành tàn bạo như cỗ máy đó.  Có nhiều người khi theo Cộng Sảntin Cộng Sảntừ khởi thủy có nhiều con người rất tốt và yêu nước nhưng khi bước vào cơ chế sai lầm này họ bị uốn đúc lên trở thành những người sai lầm và làm hết điều sai lầm này sang điều sai lầm khác.  Chủ nghĩa Cộng Sản đẻ ra một cơ chế ỷ lại và ù lị hưởng thụ nên trở thành tai họa cho cả loài người. Chính vì nhìn ra sự sai lầm này nên Chủ Nghĩa Cộng Sản đã chết tại Đông ÂuLiên Xô và trên toàn thế giới.  Ở Trung HoaBắc Triều TiênViệt Nam hay ở Cuba Chủ Nghĩa Cộng Sản chỉ còn là cái vỏ bề ngoài nhưng thực chất cái ruột đã bị thayhọ thay vào Chủ Nghĩa Dân Tộc để kéo dài sự cai trị của Đảng.”
 
Đây là câu chuyện được luân lưu trong Đảng Cộng Hòanhất là trong Đảng Trà (Tea Party một phần cực hữu của Đảng Cộng Hòa) từ đầu năm 2010 đến nay để vận động các đảng viên Cộng Hòa chống lại chính sách Bảo Hiểm Sức Khỏe và các chính sách của Tổng Thống Obama và của Đảng Dân Chủ.  Đảng Cộng Hòa cho rằng Obamacare và những chính sách khác của Tổng Thống Obama làm cho những người trước đây đã ù lì sẽ ù lì thêmkhông có tinh thần phấn đấu để đi làm đóng góp cho xã hội mà chỉ ở nhà hưởng thụ thì chắc chắn Quốc Gia Hoa Kỳ không sớm thì muộn cũng sẽ bị phá sản giống y như trường hợp sau 3 lần thi thì cả lớp đều lọt sổ ở điểm F.
 
Câu chuyện trên làm cho nhiều đảng viên Cộng Hòa nghiên cứu lại chiến lược chiến thuật để quyết tranh đấu dẹp bỏ Chính Sách Bảo Hiểm Kinh Tế của Tổng Thống Obama cũng như quyết tâm giành lại nhiều ghế hơn trong kỳ tranh cử năm 2010 này với khẩu hiệu Socialism Doesn’t Work.  Những tiểu bang có Bộ Trưởng Tư Pháp là đảng viên Cộng Hòa lập tức nộp đơn ở tòa án yêu cầu tòa phán quyết Obamacare là vi Hiến.  Người ta dự trù các chánh án có gốc Đảng Cộng Hòa sẽ phán quyết Obamacare vi Hiến.  Đảng Cộng Hòa rất lạc quan cho rằng kỳ này Đảng Cộng Hòa nói chung sẽ thắng thế mạnh trong kỳ bầu cử giữa mùa và từ đó làm kích thích tố tranh thủ Hành Pháp trong năm 2012.
 
Chuyện của nước Hoa Kỳ nghe lắm tôi cũng thuộc lòngtôi muốn nghe chuyện quốc tế và nhất là chuyện liên quan đến Việt Nam.  Tôi thắc mắc và được sự trả lời: “Ông lấy bằng chứng nào quả quyết cái ruột Chủ Nghĩa Cộng Sản đã chết ở Trung HoaViệt NamBắc Triều Tiên hay ở Cuba và họ đã thay vào Chủ Nghĩa Dân Tộc để kéo dài ngày cai trị của Đảng?  Tôi vẫn thấy họ độc tài giống y như xưa mà thôi.”
 
Tôi được câu trả lời: “Độc tài là sản phẩm không phải của riêng Chủ Nghĩa Cộng Sản mà còn là sản phẩm của nhiều chủ nghĩa như Quân ChủQuân PhiệtChủ Nghĩa Phát-xítChủ Nghĩa Dân Tộc Cực ĐoanTôn Giáo Cực Đoanv.v.  Độc tài cực đoan cánh hữu hay cực đoan cánh tả đều là sự nguy hại không những cho quốc gia của họ mà còn cho cả nhân loại.  Ở những quốc gia đang mang nhãn hiệu Cộng Sản thì những người cầm quyền trong thâm tâm ai cũng biết Chủ Nghĩa Cộng Sản sai lầm không còn hấp lực nữa nên họ đã khéo léo chuyển sang Chủ Nghĩa Dân Tộc lồng trong Chủ Nghĩa Cộng Sản. Thời gian đầu họ còn có thể đánh lừa được dân nhưng rồi dần dà họ cũng sẽ bị lật tẩy.  Nguy hiểm nhất là khi bị lật tẩy thì họ đã bám chặt địa bàn hoạt động biến thành độc tài mafia đảng trị thì quốc gia đó khó có sự phát triển như ý muốn hoặc khi cần họ sách động Chủ Nghĩa Dân Tộc Cực Đoan để đưa đất nước vào những cuộc chiến đẫm máu hầu che lấp mưu đồ độc tôn cai trị của họ. Trung Quốc thì họ đang cổ súy cho Chủ Nghĩa Hán Tộc Cực Đoan tạo sự ảnh hưởng và văn minh của người Hán trên toàn thế giới.  Bắc Triều Tiên và Cuba thì chuyển dạng sang quân chủ cha truyền con nối hoặc anh em nối ngôi.  Còn Việt Nam thì họ chuyển biến sang dạng của độc đảng nhưng có 2 phe thân Trung Quốc & Hoa Kỳ và trong 2 phe lại có nhiều phái.  Theo chúng tôitình hình Việt Nam là tình hình đặc biệt vì nhiều nhân vật cấp tiến thân Hoa Kỳ chấp nhận thay ruột trước đổi vỏ sau.  Bằng chứng hiện nay quân đội của CSVN đã được trang bị súng ống vũ khí của Mỹ và được Mỹ huấn luyện.”
 
Tôi vẫn chưa buông tha: “Tế nhị là như thế nào và làm sao để mang lại Tự Do & Dân Chủ cho Việt Nam?”
 
Tôi được góp ý: “Có 3 cách để đem đến Tự Do & Dân Chủ. Cách thứ nhất là thay vỏ và đổi ruột luôn một lúctức là làm binh biến hoặc lật đổ chế độ. Tôi biết nhiều người Việt ở hải ngoại muốn cách này lắm nhưng khổ nổi không có lực lượng và lại đi ngược với chính sách của các đại cường như Hoa Kỳ vì Hoa Kỳ đang có bang giao với CSVN. Thay vỏ đổi ruột một lúc khó có thể xảy ra được ở Việt Nam vì không có tổ chức nào đủ khả năng về quân sự hay lớn đủ để điều động những cuộc xuống đường rầm rộ toàn quốc từ bắc xuống nam.  Khi không có lực lượng đủ mà thay vỏ đổi ruột một lúc không chừng sẽ đưa đến những tai hại khó lường trước như Trung Quốc nhân danh cứu nguy đàn em CSVN đem quân vào đóng thì khốn khổ vô cùng.  Cách thứ hai là thay vỏ mà không đổi ruột thì đưa đến tệ nạn mafia. Cách này đã xảy ra ở Nga vì sau khi Cộng Sản sụp đổNga chưa có sự chuẩn bị tái kiến thiếtđất nước lại hỗn loạnĐảng Xã Hội. một đảng thoái thân của Đảng Cộng Sản do Putin lãnh đạođang tung hoành thao túng như một đảng mafia cai quản đất nước.  Thay vỏ mà không đổi ruột nhiều khi không tốt đẹp hơn mà có thể đưa đến tệ hại hơn.  Cách thứ ba là thay ruột rồi từ từ đổi vỏ và cách này đang được Hoa Kỳ hỗ trợ.  Người Việt Nam các anh thông minh và tôi nghĩ rằng người Việt Nam các anh hiểu cách nào để có những chiến thuật xuất sắc thi hành kế hoạch này.” 
 
Tôi vẫn cù nhầy: “Vậy ý ông cho rằng biểu tình chống đối CSVN không cần thiết?”  Ông mỉm cười trả lời: “Ở Mỹ có tự do mà người ta vẫn biểu tình và hầu như biểu tình hàng ngày nữa.  Biểu tình rất cần thiết vì nó là sự phát biểu của tự do ngôn luận và nó cũng là hình thức bày tỏ không đồng quan điểm với chế độ. Nếu không có biểu tình thì chế độ tưởng lầm họ làm đúng nên không có ai phản đối. Nhưng đừng biến các cộng đồng tổ chức vô vị lợi thành những đảng đấu tranh chính trị vì như vậy sẽ bị ngộ nhận và gây ra khó khăn trong công việc điều hành Cộng Đồng.  Hãy để các cơ phận chuyên nghiệp lo chuyện này đó là các đảng phái chính trị hoặc các Ủy Ban Đặc Nhiệm (Ad Hoc Committee) độc lập với Cộng Đồng.  Tuy nhiên một điểm cũng cần lưu ý là đừng hề hóa hoặc nhàm chán hóa cuộc biểu tình.  Khi nào cần thì lúc đó biểu tình chớ không phải chuyện nào cũng biểu tình làm hao tốn sức lực và làm cho những người khách quan có cảm giác nhàm chán hay hề hóa thì lúc đó biểu tình không những không phát huy được sức mạnh mà còn bị tác dụng ngược.  Nên nhớbiểu tình mà thôi không đủ để thay đổi chế độ vì nếu làm được thì Tự Do & Dân Chủ đã đến với dân tộc VN rồi.  Ngoài việc biểu tình còn cần những cơ phận khác.  Biểu tình giống như cơ phận của hai tay hai chân phát huy sức mạnh nhưng cần một cơ phận đầu não và cái miệng ngoại giao.  Cái hay đó là làm sao cơ phận nào làm trách nhiệm của cơ phận đó và đừng để cho hai tay hai chân của mình đấm đá lẫn nhau hoặc đánh vào đầu vào bụng của mình thì lúc đó mình tự chuốc lấy họa diệt vong vô tình tạo cho CSVN thêm cơ hội kéo dài sự tồn tại độc quyền cai trị đất nước.”
Lời Kết: Người bạn tôi góp ý cho rằng hai cái sai không làm nên cái đúng. Ông cho rằng Chủ Nghĩa và cơ chế Cộng Sản sai lầm và tác hại vô cùng nhưng những người đấu tranh cho Tự Do & Dân Chủ không phải vì vậy cho phép họ cũng làm sai như áp dụng chiêu bài chụp mũ hoặc tấn công những người đấu tranh khác mà không giống quan điểm của mình.  Cộng Sản làm sai trái và tàn ác thì chúng ta phải làm đúng và làm với tình tự dân tộc đầy tính nhân bản thì may ra mới đưa đất nước chúng ta ra khỏi độc tàinghèo đóilạc hậuhận thù và chia rẽ./.
 
Houston ngày 16 tháng 10 năm 2010.
 
Hoàng Duy Hùng
 
Par tonthatphusi
Ecrire un commentaire - Voir les 0 commentaires
Dimanche 24 octobre 2010 7 24 /10 /Oct /2010 16:16

NGỒI LẠI BÊN NHAU

                         (Chửi nữa đi em...)

  

 

    Giao Chỉ - San Jose.

 

                 

 Cứ 10 năm một lần:

Sau mỗi cuộc chiến, phe nào cũng có các cựu chiến binh. Trận chiến tranh Nam Bắc Việt Nam thực sự có thể kể từ Hiệp định Genève 1954 ấn định chia đôi đất nước cho đến cuối tháng 4 năm 1975. Trải qua 21 năm từ chuẩn bị cho đến cuộc chiến nổi dậy qua du kích chiến, vận động chiến rồi tấn công quy ước. Cuối cùng quân nhân Việt Nam Cộng Hòa tan hàng theo mệnh nước. Tiếp theo là di tản, tù đày, vượt biên, HO và đoàn tụ. Số phận cựu chiến binh cộng sản sau 75 cũng không khá, ngoại trừ một số cán bộ và đảng viên. Trong khi sĩ quan miền Nam đi tù thì sĩ quan miền Bắc phục viên cũng không có tương lai. “Ðầu đường đại tá vá xe, cuối đường thiếu tá bán chè đậu đen”.

Nhưng ở đây, nhân dịp vị Đại tướng 85 tuổi Trần Thiện Khiêm lần đầu tiên họp mặt với đại hội Tập thể chiến sĩ tại miền Nam California, tôi xin nói chuyện về cựu quân nhân Việt Nam Cộng Hòa tại hải ngoại.

Ðây cũng không phải là lần đầu anh em ngồi lại bên nhau.

 

                  

  Ngôi sao Nguyễn Cao Kỳ.

Ðầu thập niên 80, các hội cựu quân nhân với đa số thành phần chiến binh di tản từ 1975 đã kết đoàn. Sau 5 năm lưu vong, đời sống anh em tạm thời ổn định, bắt đầu nhớ về quê hương và nhớ về đồng đội. Ở đâu có đủ một tiểu đội là ngồi lại thành một bàn. Tại San Jose hội Không quân, Hải quân, Nhảy dù là các tổ chức tiên phong. Ða số xây dựng trên tinh thần tương trợ, quan hôn tương tế. Anh em chạy 75 được người Hoa kỳ bảo trợ nay quay ra bảo trợ người mới đến.

Một số anh em khắc khoải hờn vong quốc đã không cam chịu cảnh suốt đời đất khách quê người. Thêm một lần, tôi xin nhắc lại con đường về phục quốc đấu tranh võ trang khởi đi từ Trần văn Bá (Âu Châu), Võ đại Tôn (Úc Châu) và Hoàng cơ Minh (Mỹ Châu). Một sự tình cờ lịch sử là ba người anh hùng tìm đường về đại diện cho cả ba miền đất nước.

 

                                     

 

Tại Hoa kỳ, cựu chiến sĩ Cộng hòa đã cất tiếng gọi đàn, mở rộng vòng tay. Ðại tá thiết giáp Hà Mai Việt mời anh em về họp mặt tại Texas để chính thức ra mắt một Tổng hội cựu Chiến sĩ đầu tiên. Thiếu tướng Không quân Ðặng đình Linh được bầu làm chủ tịch. Ngôi sao sáng của Đại hội là Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ. Ông Kỳ mời được Đại tướng Cao văn Viên và Trung tướng Trần văn Ðôn về dự. Trong bài nói chuyện, với sự cảm xúc cố hữu ông Kỳ đã khóc. Ông Viên lên tiếng xin lỗi toàn quân. Ðó là Đại hội cựu Chiến sĩ đầu tiên của đa số anh em di tản 75. Chứa chan tình cảm với đầy hy vọng nhưng rồi lại không có đoạn kết.Tướng Nguyễn cao Kỳ, ngôi sao của Đại hội toàn quân lần đầu tiên từ thập niên 80 ngày nay ra sao. Thiết tưởng chẳng cần nói thêm. Ðời lính già sống lâu, chỉ thấy thêm nhiều chuyện đau lòng.

 

       

 

Tổng Thống Thiệu ra quân.

Mười năm sau, vào đầu thập niên 90, một đại hội toàn quân quy mô được hình thành tại California. Chưa bao giờ San Jose lại có dịp đón tiếp một số lượng đông đảo các tướng lãnh như thế. Có cả Ðại tướng Cao Văn Viên, các Trung tướng, các Thiếu tướng và quan trọng hơn hết có cả ngôi sao rực rỡ nhất hải ngoại là Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu. Các nhà lãnh đạo một thời của miền Nam đang nuôi ảo tưởng có thể đòi hỏi quốc tế và Hoa kỳ đưa Việt Nam trở lại với sự cam kết theo Hiệp định Paris 1973. Nhưng sự kết hợp trong Đại hội hoàn toàn chỉ có hình thức. Không phải vì có sự chống đối, mà chính vì nội dung không thực tế nên một lần nữa, anh em lại tan hàng. Sự trăn trở vẫn còn nguyên.

 

                 

 

Ngày tháng của Quốc trưởng.

Qua đến năm 2000, Đại tướng Nguyễn Khánh nguyên là Quốc trưởng đầu tiên của miền Nam Việt Nam đã có cơ hội ra mắt tại Nam Cali với tổ chức Nguyễn Hữu Chánh.

  

Trong vai trò tự phong làm thủ tướng, ông Chánh đã đưa Đại tướng Nguyễn Khánh trở lại ngôi Quốc trưởng tại hải ngoại. Mặc dù đã có nhiều bài báo phanh phui những mánh khóe bịp bợm, nhưng phong trào của chính phủ Nguyễn hữu Chánh vẫn có cả trăm người tin tưởng và Đại hội thường quy tụ cả ngàn người. Trong đó gồm cả các chức sắc, tướng lãnh cao cấp của Việt Nam Cộng Hòa. Sự ngây thơ không phải là độc quyền của tuổi thiếu niên hay anh em cấp dưới. Lúc đó Đại tướng Nguyễn Khánh là ngôi sao rực rỡ của phong trào Nguyễn Hữu Chánh. Niên trưởng của tôi dường như cũng biết hết sự tình, nhưng tiếng vỗ tay và ánh đèn sân khấu vẫn còn khả năng hấp dẫn tuổi cao niên.

Mỗi lần Đại hội hay mỗi lần tập hợp xuống đường, phong trào này đã đạo diễn chụp hình hàng trăm thiếu nữ Việt Nam áo trắng cờ vàng vẫn được thế giới mạng xử dụng trong mọi trường hợp. Giòng đời vẫn trôi qua, lịch sử Việt Nam Cộng Hòa kéo dài tại hải ngoại sẽ còn lưu lại một bức hình đáng giá.

 

                        

 

                     

 

Năm 2010, thủ tướng xuất hiện.

Như vậy là cứ 10 năm một lần, anh em cựu quân nhân lại thấy có một vì sao của thời xưa xuất hiện. Lần này Đại tướng Khiêm đến với đại hội Tập thể chiến sĩ Việt nam Cộng Hòa. Ông gặp gỡ báo chí, dự bửa cơm thân mật, nhận lời làm cố vấn. Còn chuyện sau này sẽ ra sao chưa ai biết. Dư luận khá ồn ào, có người thông cảm, có người phê bình chỉ trích thậm tệ hết sức tàn nhẫn.

Nhưng về cuộc đời và sự nghiệp thực sự của Thủ tướng Trần Thiện Khiêm thì những người biết chuyện không nói hết, những người nói ra cũng chưa biết hết chuyện. Cuộc đời chính trị hết sức may mắn của ông vui nhiều hơn buồn. Nhưng để lại những thành tích cho quốc gia thì buồn nhiều hơn vui. Sau cùng, một câu hỏi đặt ra là, ý nghĩa thực sự của việc Đại tướng Khiêm xuất hiện là chuyện gì. Phải chăng Mỹ đã tính chuyện với Việt Nam và bây giờ là lúc tìm đến Việt nam Cộng Hòa. (?)

Thắc mắc này từ ngày xưa, cũng đã được thiên hạ đưa ra cứ 10 năm một lần. Thời kỳ 80 phải chăng CIA tính dùng ông Kỳ qua đại hội Texas. (?)

Thời kỳ 90 ông Thiệu xuất hiện do Mỹ dự trù trở lại hiệp định Paris. (?)

Qua 2000 chính phủ của chú Chánh tuyên bố úp mở là có Mỹ đứng sát sau lưng Thủ tướng lưu vong để ủng hộ Đại tướng Quốc trưởng.(?)

 

Nếu những chuyện không tưởng như thế đã không xảy ra mấy chục năm trước thì ngày nay người Mỹ dùng các cựu chiến binh cao niên Việt Nam Cộng Hòa với niên trưởng 85 tuổi của anh em ta để làm việc gì. Sao anh em lại có thể tiếp tục ngây thơ vô tội như thế? Sự thực là chẳng hề có yếu tố Hoa Kỳ trong thế giới Việt Nam Cộng Hòa di tản trong suốt 35 năm qua và vĩnh viễn về sau. Sức mạnh của cộng đồng Việt Nam  - nếu có - phải trong khuôn khổ người công dân Mỹ gốc Việt.

Riêng phần chiến sĩ cộng hòa đã đành nếu bạn nhập ngũ một ngày cũng là lính. Người lính mặc áo trận năm 75 lúc 18 tuổi ngày nay cũng đã là cựu quân nhân trên 50 tuổi. Nhưng trên thực tế, đa số cựu chiến binh VNCH tại Hoa Kỳ bây giờ đã hưởng tiền già hoặc sắp hưởng tiền già, hoặc tiền hưu bổng vào lớp tuổi lục tuần. Phần lớn các nhà lãnh đạo quân đội, các tướng lãnh ở lớp tuổi bát tuần. Rõ ràng là lực bất tòng tâm. Không phải là lúc ôm mộng lấp bể vá trời. Cũng chẳng ai đòi hỏi những người anh hùng mỏi mệt chúng ta phải thi hành những sứ mạng lớn lao như thế. Nhu cầu hết sức cần thiết và đơn giản là anh em ta ngồi lại bên nhau.Vì vậy sinh hoạt của các hội đoàn quân đội, các khu hội, các tổng hội quân binh chủng, các đơn vị vùng, tại khắp năm châu bốn bể, dù trong hay ngoài tập thể, đều là những sinh hoạt lành mạnh, hợp với hoàn cảnh thực tế. Trong tinh thần xây dựng như thế, tôi xin viết lời bình luận về tổ chức Tập Thể vừa họp xong đại hội bất thường.

 

Ðường trường xa, muôn vó câu bay...

Cách đây 7 năm, một số niên trưởng trong quân đội đã ngồi lại bàn tính xây dựng một cơ cấu kết đoàn giữa các cựu quân nhân và các khu hội, tổng hội quân binh chủng.

Một trong các nhu cầu then chốt là tìm người lãnh đạo. Bất cứ nhân vật nào thì cũng sẽ bị búa rìu dư luận phê phán, chê bai. Tuy nhiên sau cùng cũng tìm ra được những nhà lãnh đạo có vẻ đủ điều kiện và điều quan trọng là can đảm nhận lời. Tướng Lê Minh Ðảo, người anh hùng cuối cùng của mặt trận Long Khánh, cựu tù chính trị lâu năm nhận lời làm vai trò then chốt. Ngoài ra còn có giáo sư Nguyễn Xuân Vinh, khoa bảng nổi danh nhận làm chủ tịch quản trị. Xin coi như ông Ðảo là sĩ quan bộ binh đóng vai chính. Ðại hội mở ra khí thế tưng bừng và được khá nhiều đoàn thể quân đội hưởng ứng. Tập thể ra đời, mở rộng tổ chức và kiện toàn. Họp tới họp lui từ địa phương đến trung ương được vài năm thì tướng Ðảo từ chức vì lý do sức khỏe. Ðại tá không quân Nguyễn Xuân Vinh kiêm nhiệm luôn việc điều hành. Từ bộ binh, lá cờ Tập thể chuyển qua không quân. Ngày xưa các Tư lệnh làm việc chỉ tay năm ngón. Tất cả trông cậy cấp dưới chạy việc từ tham mưu đến binh đoàn. Ngày nay Tư lệnh chỉ có một mình, đường lối thì đao to búa lớn nhưng lấy phương tiện đâu mà lên đường. Dậm chân tại chỗ để giữ được anh em là may. Rồi đến khi vị chủ tịch không quân từ chức. Từ bên trong, anh em đều biết, các nhà vận động suốt nhiều tháng trường cố gắng tìm người ra thay thế. Lập danh sách năm vị anh hùng của quân lực Việt nam Cộng Hòa trong hàng ngũ đại tá được coi là tương đối trẻ trung. Tuổi từ khoảng 75 hay 76. Tất cả đều từ chối. Tập thể đứng ở ngã ba dường. Hoặc là cứ đại hội rồi bầu ra bất cứ ai, hoặc là tan hàng. Xem như thế vai trò lãnh đạo tương đối gọi là chính thức tại hải ngoại vô cùng khó khăn. Tại sao không ai nhận công tác lãnh đạo? Xin trả lời: Tuổi già sức yếu, phương tiện không có, hoài bão lớn lao, đánh phá tưng bừng và còn gì nữa xin bổ túc cho đầy đủ một danh sách dài...

Nhưng sau cùng dường như một người ít vấn đề nhất trong số anh em cựu chiến sĩ đã nhận lời thử thách. Phó đề đốc Hồ Văn Kỳ Thoại chấp nhận ra làm việc. Trong lá thư ngỏ ông viết rằng ra ngồi với anh em để anh em tiếp tục ngồi lại với nhau. Mục tiêu đơn giản và chân thành. Phải nhìn lại trong hàng ngũ lãnh đạo của tập thể ta có thể thấy sự cô đơn của những người tâm huyết nhiệt thành. Vị đô đốc hải quân 90 tuổi Trần văn Chơn trong ghế chủ tọa. Tướng Nguyễn khắc Bình, ngôi sao trẻ trung của quân đội ngày xưa, nay cũng đã 80 tuổi. Và thêm phó đề đốc Thoại. Các tướng lãnh Việt Nam Cộng Hòa khác đều không có mặt. Nhiều tên tuổi đã ra đi. Không còn ai là cựu tổng thống. Không còn ai là các tư lệnh Vùng của thời kỳ 75. Có vị già yếu, hoặc là đã chán chường. Chỉ cần đến để gặp anh em, nhưng các ngài cũng quản ngại.

Trong hoàn cảnh đó tướng Khiêm xuất hiện, gọi là để khích lệ tinh thần. Nào ngờ mang nặng quá khứ với nhiều vấn đề, lại thêm 35 năm tránh né cộng đồng nên đã bị dư luận chỉ trích kịch liệt. Một người anh em đi dự đại hội về đã nói một câu đáng đồng tiền bát gạo. Nói rằng:”Anh em ra ngoài phơi nắng cộng đồng mấy chục năm nay, nghe chửi đã nhiều. Bây giờ cũng là dịp niên trưởng đại tướng ra phơi nắng để nghe chửi với anh em cho biết đá vàng. Gọi là chia ngọt xẻ bùi.” Như vậy phải chăng kỳ này anh em mời niên trưởng ra là để phơi nắng ông Thầy. Cùng vui hưởng những tràng pháo tay và những lời chửi rủa. Anh em sinh hoạt, bị nắng cháy gần thành than, nhờ niên trưởng ra chịu đạn thay cho anh em một thời gian.

 

                           

 

Tiếng gọi từ biển Ðông.

Từ khi Tập thể thành hình, có một vị sinh hoạt từ đầu nhưng chẳng mang chức vụ chính thức. Nếu có hỏi đi hỏi lại thì ông chỉ nhận là liên lạc viên. Thiếu tướng Nguyễn Khắc Bình năm nay 80 tuổi, sinh quán Ba Tri thuộc tỉnh Bến Tre. Ông đã kiên trì trong vai trò kiến trúc sư xây dưng ngôi nhà Tập thể. Ðể có thể gác bỏ ngoài tai những lời phê phán, công việc đầu tiên của vị sĩ quan cao cấp về tình báo an ninh của VNCH là cắt đứt Internet. Tướng Bình yểm trợ ông Lê Minh Ðảo, tư vấn cho Đại tá Vinh và ông tình nguyện làm tài xế cho Đô đốc Trần Văn Chơn. Mối chân tình sâu đậm với ông cựu Tư lệnh hải quân cho đến nỗi trong anh em, ông Chơn cũng gọi luôn ông tài xế Bình là Đô đốc.

Từ khi ông Vinh từ chức, tướng Bình đôn đáo tìm người ra gánh vác tập thể. Hết sức kiên trì, tận tụy và nhiệt thành, ông đã suy tư đi tìm nhà lãnh đạo cho giai đoạn mới. Thời cơ mới rất thời sự chính là tiếng gọi từ biển Ðông. Thành quả rất đáng kể lần này của tướng Bình có được vị chủ tọa là Đô đốc nguyên Tư lệnh hải quân. Ðồng thời ông mời được Đại tướng Trần thiện Khiêm xuất hiện. Và sau cùng tình thế đưa đẩy Phó Đề đốc Hồ Văn Kỳ Thoại, quê Gò Công ra nhận công tác. Từ nay tạm thời ông Bình có thể ngủ yên và đến lượt ông Thoại mất ngủ.

 

Là tướng lãnh trẻ trung của hải quân Việt Nam Cộng Hòa, Đề đốc Thoại đã từng có thành tích chỉ huy các chiến dịch biệt kích hải bên kia vỹ tuyến, trước khi làm Tư lệnh hải quân Vùng I trong trận Hoàng Sa. Thân phụ là cụ Hồ Văn Kỳ Trân và ông nội là Hồ Biểu Chánh. Trong thời đệ nhất cộng hòa, ông Thoại là sĩ quan tùy viên của Tổng thống Ngô Ðình Diệm. Khác với nhiều vị tướng lãnh, suốt 30 năm qua, ông Thoại có cơ hội tiếp tục làm việc trong công tác chỉ huy và quản trị tại các cơ quan Hoa Kỳ. Ông là người của nguyên tắc và hiểu rõ thể thức sinh hoạt chính thức của hội đoàn. Dù vậy, ra nhận trách nhiệm lãnh đạo Tập thể trong tuổi về hưu quả thực là một hành động bất thường. Nguyên do chính vì anh em, nhưng thực sự ông rất nể trọng vị Tư lệnh hải quân tóc bạc 90 tuổi. Tướng Trần văn Chơn, người chỉ huy trực tiếp của ông Thoại thời kỳ Hoàng Sa 74 đã nhắc đến 60 chiến sĩ hải quân chết tại biển Ðông. Những tin tức thời sự về biển Ðông ngày nay đã đưa tâm tư người lính biển về với chiến tích oai hùng 36 năm trước. Ông Chơn nói rằng xin Đề đốc Thoại hãy vì các chiến binh nằm lại Hoàng Sa mà nhận lời.
 

Sau Bộ binh Lê Minh Ðảo, qua Không quân Nguyễn Xuân Vinh, bây giờ đến Hải quân Hồ Văn Kỳ Thoại lên phiên. Ông Thoại có bà vợ là giáo sư dạy học nhiều năm tại Mỹ. Bà rất hết lòng yểm trợ phu quân. Thuận vợ, thuận chồng tát biển Ðông cũng cạn. Tát cạn biển Ðông lúc đó thiên hạ cùng thấy rõ, Hoàng Sa, Trường Sa gắn liền vào Việt Nam ra sao. Nhưng ngay bây giờ, ông bà cùng chuẩn bị đón nhận búa rìu dư luận...

 

Một cái tóc là một cái tội.

Bất cứ người nào ra nhận trách nhiệm đều có thể lãnh búa tạ. Cuộc đời binh nghiệp cũ được đưa ra bình luận. Ðời sống 35 năm qua cũng là cả vấn đề. Anh làm gì bấy lâu nay. Anh chạy trước thì có tội bỏ anh em. Anh ở tù thì có thể thiếu tư cách, có thể đã khiếp nhược trước kẻ thù. Một cái tóc là một cái tội. Ở cái đất nước tự do này, chửi bới được hiến pháp bảo vệ trong tu chính án dân quyền. Và chửi thượng cấp ngày xưa là một cái thú vô cùng hấp dẫn. Phần lớn các bài báo và tham luận của anh em viết về quân đội thường đề cao chiến binh và mắng chửi tướng tá đã trở thành cái mốt rất thời thượng. Nhưng tôi cũng xin nói một lần để các bạn rõ. Các bạn liệt kê vô tội vạ danh sách tướng bẩn tướng sạch, tướng anh hùng tướng hèn nhát. Kể tội tá xấu tá đẹp, tá hiên ngang ở lại hay tá nhục nhã chạy làng, phần lớn đều không phải như vậy. Thành ngữ "thấy vậy mà không phải vậy" chính là hình ảnh của quân đội. Khi phải nói lại cho thế hệ tương lai, ta có thể nói rằng, Chúng ta đang ở thời đại của người biết chuyện không nói. Kẻ nói nhiều lại là người không biết chuyện. Các bạn có giận thế hệ đàn anh xin vui lòng chửi bới toàn thể hàng tướng tá, để anh em chúng tôi cùng chia xẻ theo tình nghĩa huynh đệ chi binh. Nếu cứ tuyên dương hay lên án theo danh sách lếu láo chính là những lầm lẫn chết người. Quân đội nào cũng thế, có kẻ xấu người tốt. Nhưng đã cùng trong hàng ngũ, nếu không phải chính phạm làm mất nước thì ta cũng là tòng phạm. Nước mất nhà tan, dậu đổ bìm leo. Chửi nữa đi em. Các em chửi là đúng quá. Nhưng cần ghi nhận rằng tội của thế hệ đàn anh làm mất nước là quan trọng nhất. Còn tội chạy trước chạy sau, dốt nát, ăn chơi, ngậm miệng ăn tiền, ba cái lẻ tẻ đó chỉ là thứ yếu. Tập thể ngày nay chẳng qua cũng chỉ là di sản về già của cuộc binh đao. Chẳng khác gì ngày xưa quân đội cũng lẫn lộn cả người xấu kẻ tốt. Trong buổi hoàng hôn, anh em ta đã ngồi lại bên nhau. Nếu không làm nên cơm cháo gì, thì cũng nên ngồi lại cùng nghe thiên hạ chửi, hầu vơi được phần nào trách nhiệm tội lỗi với non sông.

Xin các bạn ngồi lui vào, dành cho tôi một chỗ hàng đầu. Chẳng phải vì tôi nhiều tội hơn anh em, chẳng qua mình đã phơi nắng nghe chửi hơn 30 năm, trở thành điếc không sợ súng. Chửi nữa đi em... May ra giúp các niên trưởng siêu thoát ngay trong cõi trần gian. Chửi nữa đi em...

 

 Giao Chỉ - San Jose.

Par tonthatphusi
Ecrire un commentaire - Voir les 0 commentaires
Dimanche 24 octobre 2010 7 24 /10 /Oct /2010 10:33
XƯỞNG BẢO QUẢN TỬ THI
 
Cuộc sống có thể kết thúc nhưng thi thể có thể lưu giữ mãi mãi là chủ đề chùm ảnh xưởng bảo quản xác chết ở Đại Liên, Trung Quốc được đăng tải ngày 24/9 lôi cuốn sự chú ý của khá nhiều bạn đọc.
Gunther von Hagens là một công ty chuyên xử lý, bảo quản xác chết sinh vật. Họ giải phẫu các thi thể, hút khô nước và tiến hành chỉnh hình biến những xác chết thành các tiêu bản người để bảo quản lâu dài.
 

Hãi hùng xưởng bảo quản tử thi

Thùng ngâm xác chết.

 
Những công việc “thao tác” trên xác chết vẫn đang diễn ra hàng ngày ở một xưởng bảo quản tại Đại Liên, Trung Quốc.
Theo chân những nhân viên công ty Gunther von Hagens vào xưởng, 2 nhân viên nam mặc đồ bảo hộ mở nắp thùng inox. Hình ảnh đầu tiên đập vào mắt phóng viên là 2 tử thi được bọc trong vải trắng nổi lềnh phềnh trong dung dịch chất lỏng có màu xám nhợt.

Hãi hùng xưởng bảo quản tử thi

Các nhân viên đang giải phẫu tử thi.

 
Một nhân viên cho phóng viên biết, đó là 2 xác người được bơm dung dịch formalin 20% và ngâm vào bể dung dịch này trong vòng 4 tháng, sau đó mới được đưa ra giải phẫu. Formalin có tác dụng diệt khuẩn và cố định các bộ phận cơ thể.Những xác người ngâm formalin này là của những người Đức tình nguyện hiến xác khi họ còn sống và được nhập khẩu vào Trung Quốc sau khi đã được các lực lượng chức năng kiểm tra, kiểm dịch.

Trong xưởng, 20 chiếc bàn giải phẫu được xếp thành hàng ngang, các thi thể được sắp đặt theo thứ tự hết nam tới nữ, từ già tới trẻ. Mỗi bàn giải phẫu có khoảng 3, 4 nhân viên, họ sử dụng các công cụ thực hiện các thao tác giải phẫu một cách thuần thục.

Những nhân viên này tách bỏ những phần mỡ dễ bị thối và để lộ ra hệ thống thần kinh, hệ cơ, xương cốt. Để làm được một tiêu bản người hoàn chỉnh trung bình những nhân viên này phải làm việc từ 1500 đến 2000 giờ.
Sau khi giải phẫu xong, xác chết được chuyển sang thực hiện công đoạn rút nước và loại bỏ formalin trong các bộ phận bằng cách bỏ tiêu bản vào những thùng kim loại đựng dung dịch Acetone ở nhiệt độ thấp.
 
Theo VTC
 
CHẾT CÓ THẬT ĐÁNG SỢ HAY KHÔNG?
 
Nguyễn Thượng Chánh & Nguyễn Ngọc Lan
Phàm ở đời hầu như ai ai cũng đều sợ chết hết, ngoại trừ những vị cao tăng đã thấm nhuần lý vô thường, những người có lý tưởng hy sinh, những người đau bệnh trầm kha nằm một chỗ, những kẻ mang tâm trạng chán đời trầm cảm cực độ, cũng như những kẻ bất bình thường mà thôi.
Riêng cá nhân tác giả cũng sợ bệnh sợ chết như mọi người vậy.
Tham sanh úy tử
Ai cũng vậy, hồi trẻ, sức khoẻ dồi dào, yêu đời, tối ngày chỉ biết có vui chơi mà thôi, chuyện chết chóc là chuyện cùa mấy ông già bà cả chớ có bao giờ mình bận tâm suy nghĩ đến đâu.
Lớn lên thì phải lo chuyện cơm gạo, chuyện gia đình, chuyện con cái suốt ngày suốt tháng nên đâu còn thì giờ gì mà nghĩ đến vấn đề chừng nào mình đứt bóng theo ông theo bà…
Khi tuổi đời bắt đầu hơi cao, khoảng từ 55 tuổi trở lên thì bệnh tật cái nầy cái nọ bắt đầu lòi ra. Lúc đó, chúng ta mới ý thức rằng cuộc đời rất phù du, thân xác con người ta không thể nào trường tồn vĩnh viễn được, không thể nào cải tử hoàn sanh được, v.v…
Tóm lại đó là lẽ vô thường! Có ngày mình cũng phải ra đi như mọi người mà thôi.
Đi lúc nào thì chưa biết được, nhưng càng trễ càng tốt phải không các bạn.
Tùy theo số mạng cả. Chết đến không báo trước. Có thể là bất cứ lúc nào, do tai nạn bất ngờ hoặc vì bạo bệnh bất tử.
Riêng đối với người viết, vài ba năm nữa mình sẽ bước vào lớp thất thập cổ lai hy nên ý thức rằng ngày ra đi chắc cũng không còn mấy xa lắm đâu.
Tuổi càng về già thì con người ta càng hay suy tư nhiều về cái chết. Vào lớp tuổi nầy, quanh ta, người thân cũng như bạn bè, lác đác đã có người ra đi rồi.
Xem mục cáo phó trong các báo Tây báo Việt, thì thấy thiên hạ thường chết nhiều trong khoảng 80-90 tuổi. Thôi thì mình cũng hy vọng được như họ. Như vậy, mình còn sống cao tay lắm cũng chừng 15-20 năm nữa là quá sức rồi, với điều kiện là Trời còn thương và Ngọc Hoàng đừng giũ sổ gởi xuống âm ti bất tử.
Sao mà lẹ quá vậy Trời!
 Ở cái tuổi của tác giả, có ai mà dám nói mình chưa thấm đòn đâu.Tóc thì bạc phơ rồi, răng cỏ thì cái còn cái mất, ăn uống phải đeo răng giả rất là phiền phức, còn nếu lỡ nhìn vào kiếng thì thấy mình lụ khụ, lưng khòm, da thì nhăn nheo đầy đồi mồi mất hết thẩm mỹ, tiếng nói thì bắt đầu hơi run rẩy, hay nói đi nói lại khiến con cháu bực mình, cái gì cũng yếu hết, bắt đầu hay quên trước nhớ sau, nay đau chỗ nầy mai đau chỗ kia, nhưng kẹt một nỗi là đầu óc thì vẫn chưa chịu chấp nhận là mình đã già rồi.
Mình tưởng mình còn trẻ hoài, thế mới khổ chớ.
Mình còn ham vui, còn ham sống mà.
Vô tiệm ăn thì người ta gọi mình bằng bác, kêu bằng ông bằng bà. Mình mới giật mình. Vậy mà mình cứ cho rằng mình chưa có già. Ngược lại mình rất chủ quan mà thấy bạn bè và người khác sao họ có vẻ lại già hơn mình quá.
Nghĩ cho cùng, già thì phải có bệnh để mà chết chớ hổng bệnh thì lấy gì mà chết được.
Đó là cái logic của sanh bệnh lão tử.
Theo mình nghĩ, sống quá già thì thân xác càng xấu xí đi… chả có ích lợi gì cả và vả lại sống đến 100 tuổi hoặc cao hơn nữa thì sống với ai đây? Ở cái tuổi nầy, con cái của mình dám chết hết rồi. Còn cháu chắt thì có thể khi thấy mình tụi nó lại sợ thấy mồ tổ. Có chắc gì tụi nó dám lại gần hay đi thăm mình không?
Vậy chỉ còn nhà già là trạm dung thân cuối cùng của mình trên dương thế nầy trước ngày ra đi mà thôi.
Thỉnh thoảng đi chùa, mình có đưọc nghe các thầy giảng về tử sinh. Mình cũng có tìm hiểu vấn đề nầy qua kinh sách Phật giáo Tây Tạng, nên cũng biết lõm bõm vậy thôi chớ hổng chắc gì là mình hết còn sợ chết.
Ai cũng muốn chết sướng hết
Cũng ngộ, con người ai ai cũng muốn sống sao cho sướng mà đến lúc chết thì mọi người cũng hằng ao ước được chết sao cho lẹ, cho sướng.
Đây là bình thường normal, là lẽ thường tình mà thôi.
Đa số đều nói họ không sợ chết nhưng chỉ sợ bệnh tật dây dưa làm đau đớn thể xác lẫn tâm hồn, làm mất cả nhân cách cũng như làm khổ não và phiền toái cho gia đình.
Chết sướng là gì? Đó là chết già, chết êm thắm, không đau đớn thể xác lẫn tâm hồn, vậy chết trong giấc ngủ là khỏe nhất, kế đến là chết vì bệnh tim mạch, đứng tim, đứt gân máu và phải chết cho thật mau thật lẹ, không lê lết cả tháng trời, không xụi bại, bán thân bất toại, á khẩu, không ỉa trây đái dầm, không bị mất trí nhớ và không bị lú lẫn điên khùng nầy nọ, v.v…
Giờ phút lâm chung cần có sự hiện diện đầy đủ của vợ con hay chồng con mình để tiển đưa mình cho khỏi tủi thân (?)
Có người thì còn lo xa hơn, nghĩ tới hậu sự nên bắt đầu lo tu, bắt đầu ăn chay, niệm kinh, lo thiền, lo cầu nguyện, siêng đi chùa, đi nhà thờ thường xuyên, cúng dường tam bảo, phóng sanh, bố thí công đức, bố thí tài vật, làm từ thiện gieo duyên lành để được phước, được hồng ân hầu khi chết thì hy vọng sẽ được rước về cõi Phật hoặc về thiên đàng với Chúa…
Cái gì cũng vậy. Chết cũng cần phải được chuẩn bị tinh thần từ trước. Thiền cũng là một phương pháp giúp chúng ta ý thức hơn về tánh có không của mọi sự vật trong cõi đời nầy, nhờ vậy chúng ta chấp nhận sự chết dễ dàng hơn và ra đi được thanh thản hơn!
Tại sao người ta sợ chết?
Chết vẫn còn là một việc cấm kỵ tabou, một điều quá bí ẩn đối với tất cả mọi người. Từ trước tới giờ vẫn chưa có người quá vãng nào trở lại dương thế để kể lại cho bà con ta nghe với.
Chuyện cận tử, thân trung ấm, lúc vừa mới chết thì hồn bay lơ lững đâu đó, rồi vào đường hầm thấy toàn ánh sáng chóa lòa, gặp lại bà con đã chết từ lâu, kêu réo nhau la ới ới, chuyện đầu thai lại, chuyện tái sinh, chuyện ma quỷ, và còn nhiều thứ lắm lắm… có thật hay không có thật chẳng có ai biết được hết. Tin hay không là chuyện riêng của mỗi người.
Có người còn so sánh sự chết cũng không khác gì giấc ngủ mỗi đêm. Tối ngủ, mình chẳng còn biết gì hết hổng khác gì như mình đã chết rồi. Sáng ra thức dậy như được tái sanh trở lại, sống thêm một ngày nữa. Mừng hết lớn.
Vậy sợ chết là sợ những gì mình không rõ, những gì bí mật mình chưa biết được.
Người ta sợ chết vì sợ thân xác bê bết máu me, nát bấy, xấu xí đi, sình thúi ghê tởm quá.
Trường hợp những giây phút trước khi phi cơ lâm nạn lao xuống đất chắc hành khách phải hãi hùng kinh hoàng tột độ. Đây là một thí dụ rõ rệt nhất về sự kiện sợ chết.
Có cả trăm câu hỏi được đặt ra nhưng chưa có câu giải đáp nào hết về sự chết. Mọi người cứ tưởng tượng thế nầy thế nọ cho nên thiên hạ vẫn còn lo và vẫn còn sợ chết.
Người đời thường nghĩ rằng hễ chết là hết, là trống không, là rơi vào vực thẩm tối thui, là hư vô, tĩnh lặng.
Chết rồi thì mình sẽ đi về đâu sau đó, rồi mình sẽ ra sao? Bởi vậy nên ai ai cũng đều sợ chết lắm.
Ai cũng phải có ngày chết hết. Đây là một sự thật. Chạy đâu cũng không khỏi. Đây là điều chắc chắn 100%, thật rõ ràng và là lẽ công bằng của trời đất.
Trên cõi đời nầy, chỗ duy nhất, nơi mà con người thật sự được hoàn toàn bình an, không còn thù hận nhau nữa, không bao giờ biết hơn thua, phân biệt đố kỵ với nhau nữa, đó là chỗ nghĩa địa an giấc ngàn thu.
Cuộc đời thật vô thường, vậy phải biết trân quý sự sống. Thù hận, tranh đua, phân biệt, cố chấp, ganh tị, suy bì, hơn thua nhau từng tiếng, từng lời, từng chút một rồi cuối cùng cũng phải chết mà thôi. Đến lúc đó thì ăn năn hối cải, than khóc, kể lể, luyến tiếc làm chi cho mất công, muộn màng rồi bạn ơi.
Tại sao hồi còn sống không biết sống cho hòa thuận, thương yêu nhau, giao hảo nhau trong tình người, biết tha thứ nhau?
Mọi người đều đến cõi đời nầy với hai bàn tay trắng, thì lúc ra đi cũng chỉ với hai bàn tay trắng mà thôi.
Ai ai cũng đều biết như vậy, nhưng hễ sao mỗi khi nghĩ đến chết thì thấy rờn rợn và hơi lo một chút.
Bằng mọi giá họ phải níu kéo sự sống lại. Bỡi lý do nầy mà ngày nay khoa học đã sáng chế ra vô số kỹ thuật để kéo dài thêm sự sống… Nào là kỹ nghệ thuốc trường sanh, kỹ nghệ ngâm xác trong khí lỏng liquid nitrogen để chờ ngày tìm ra thuốc trị liệu để tiếp tục… sống, v.v…
Người ta sợ chết gì sợ mất người mình thương, sợ xa lìa người thân, bạn bè, xa lìa vợ con, chồng con, sợ không ai nuôi con mình, sợ rồi đây tụi nó sẽ ra sao? sợ mất đi cái tôi của mình, sợ mất hết tài sản của cải mà mình đã thật sự khổ công tạo dựng được trong suốt cả cuộc đời, cũng như sợ chưa thực hiện được những hoài bão mà mình hằng mong ước, và sợ bị lãng quên, v.v…
Nhưng theo quan niệm triết lý Phật giáo, thì những thứ vừa kể trên là đều không có thật!
Giàu có, tỷ phú thì sợ chết đã đành, nhưng nghèo rớt mồng tơi, không có của cải gì ráo trọi cũng sợ chết luôn tuốt luốt.
Thường những người sợ chết là những người còn hoạt động, đi đứng và còn sinh hoạt được bình thường.
Nếu đã già khú cú đế rồi, bệnh hoạn đủ thứ, sinh hoạt khó khăn, ăn uống ngủ nghê không được, mà còn bị con cháu bạc đãi hất hũi nầy nọ thì nhũng người nầy chấp nhận cái chết dễ dàng hơn nhiều.
Sợ chết cũng là một phản ứng tự nhiên của bản năng sinh tồn của tất cà mọi sinh vật.
Trong phạm vi nghề nghiệp, người viết có thể cả quyết rằng thú vật như bò, heo lúc bị lùa vào lò sát sanh để bị làm thịt chúng đều rất kinh hoàng, la rống, phản ứng lại rất dữ dội vì bản năng sinh tồn. Hình như chúng biết cảm nhận được cái chết gần kề. Phải chăng thú vật cũng có tình cảm như chúng ta?
Các tôn giáo lớn đều có đề cập đến vấn đề chết. Mỗi tôn giáo đều có giải thích một cách khác nhau.
Cách nào nghe ra cũng đều thấy có lý hết với điều kiện là mình phải có đức tin tuyệt đối vào tôn giáo đó.
Chết qua cái nhìn của Phật giáo
“Mạng sống mong manh, cái chết là điều cầm chắc – Life is uncertain, death is certain”
Đây là tựa đề quyển sách giá trị nói về cái chết. Sách do Venerable Dr Sri Dammananda viết và được thầy Thích Tâm Quang dịch. Sau đây là tóm lược các ý chánh:
Chúng ta không nên sợ chết vì đó là lẽ thường tình, là quy luật tất yếu của tiến trình của vòng sanh tử mà thôi. Có sanh thì phải có tử để có thể tái sanh theo nghiệp lực nhân quả luân hồi.
“… Đời sống mong manh, chết là điều chắc chắn. Đó là câu châm ngôn nổi tiếng trong Phật Giáo. Biết rõ Chết mong manh và là một hiện tượng tự nhiên mà mọi người phải đương đầu, chúng ta không nên sợ cái chết. Nhưng tất cả chúng ta đều sợ chết vì không nghĩ về điều không tránh được. Chúng ta thích bám víu vào đời sống, vào xác thân và phát triển quá nhiều tham dục và luyến ái.
Sự đau đớn về cái chết thật khủng khiếp, đó là một thái độ phát xuất bởi vô minh.
Con người bị lo âu không phải vì ngoại cảnh mà vì niềm tin và tưởng tượng về đời sống và mọi thứ của mình. Cái chết, chẳng hạn, tự nó không khủng khiếp: Khiếp sợ và kinh hãi chỉ do tâm trí chúng ta tưởng tượng mà ra.
Vì tham sống nên sự sợ chết được hình thành một cách thiếu tự nhiên. Nó tạo lo âu mạnh mẽ trong đời sống đến nỗi làm con người không bao giờ dám mạo hiểm làm điều gì dù đó là lẽ phải. Người đó sống trong sợ hãi lo lắng về bệnh tật và các tai nạn có thể xẩy ra cướp mất mạng sống quý giá của mình.
Tuy nhiên có một phương pháp để vượt qua sự sợ hãi này. Hãy quên đi quan niệm về cái ‘tôi’; hãy đem tình thương phục vụ nhân loại và tỏ tình thương với người khác. Say mê phục vụ tha nhân, chẳng bao lâu bạn sẽ tự mình thoát khỏi cái tự kỷ luyến ái nặng nề, mơ ước, kiêu căng, và tự tôn.
Bệnh và chết cả hai đều là việc xẩy ra tự nhiên trong đời sống của chúng ta, và chúng ta phải chấp nhận điều đó với sự hiểu biết
Đức Phật khuyên: “Hãy tin và nương tựa vào chính mình, hãy gắng sức và chuyên cần”. Người Phật Tử không sầu thảm bi thương trước cái chết của một người thân hay bạn hữu. Không có gì có thể ngăn cản được bánh xe nhân quả. Khi một người chết, nghiệp do họ tạo nên sẽ theo họ đến cuộc đời mới. Người còn lại phải chịu đựng sự mất mát với bình tĩnh và hiểu biết. Chết là một tiến trình không tránh được trên thế gian này. Đó là một điều chắc chắn trong vũ trụ này….
Chúng ta phải cố gắng hiểu rằng mọi việc trong vũ trụ này đều mong manh. Cuộc sống chỉ là ảo giác hay ảo tưởng. Khi ta phân tách mọi thứ bằng khoa học hay triết lý, không ham muốn vị kỷ, cuối cùng chúng ta không thấy gì cả mà chỉ là hư không…”
(Những Hạt Ngọc Trí Tuệ Phật Giáo – Gems of Buddhist Wisdom – Buddhist Missionary Society, Malaysia, 1983, 1996 – Thích Tâm Quang dịch)
Kết luận
Nghĩ cho cùng cái chết chỉ là một giai đoạn của cái sống. Có chết đi thì mới có được một cái sống mới khác tiếp nối theo được.
Vậy hãy trân quý cuộc sống ngày hôm nay. Không nên để tâm trạng sợ chết trở thành một nỗi ám ảnh thường xuyên làm ô nhiễm cuộc sống của chúng ta.
Hãy quên sự chết đi để mà sống. Chừng nào chết thì chết.
Chết thì dễ, là việc đương nhiên rồi.
Sống sao cho đáng sống mới là việc khó.
Đời là vô thường!
  
Nguyễn Thượng Chánh & Nguyễn Ngọc Lan
 
 

 

Par tonthatphusi
Ecrire un commentaire - Voir les 0 commentaires
Créer un blog gratuit sur over-blog.com - Contact - C.G.U. - Rémunération en droits d'auteur - Signaler un abus - Articles les plus commentés